Vắc xin phòng HPV: Hiệu lực và mức độ an toàn

Human Papillomavirus (HPV), vi rút u nhú ở người, là tác nhân gây ra các bệnh như mụn cóc sinh dục, ung thư cổ tử cung, một số loại ung thư hiếm gặp [1][2][3].

Có hơn 100 chủng vi rút HPV khác nhau, trong đó 2 chủng HPV (HPV16 và HPV18) là thủ phạm chính gây ra 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung, 80% ung thư hậu môn, 60% ung thư âm đạo, và 40% các bệnh ung thư âm hộ [5]. Bên cạnh, hai chủng vi rút này cũng là tác nhân gây ra các bệnh ung thư miệng, và một số bệnh ung thư hiếm gặp ở bộ phận sinh dục. Trong đó, HPV6 và HPV11 gây ra 90% mụn cóc ở bộ phận sinh dục [2].

Trên thế giới, nhiễm HPV là loại nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục ở người lớn phổ biến nhất [3]. Có tới trên 80% phụ nữ Hoa Kỳ trên 50 tuổi đã có ít nhất một lần bị nhiễm một chủng HPV trong đời [12][13][14][15][16]. Mặc dù, hầu hết các phụ nữ bị nhiễm HPV sinh dục thường không có biến chứng [17]. Tuy nhiên, hàng năm thế giới ghi nhận khoảng 529.000 trường hợp ung thư cổ tử cung mắc mới và 275.000 tử vong. Tỷ lệ chết/mắc xấp xỉ 50%. Trong đó, có khoảng 85% các bệnh ung thư và 80% các trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung xảy ra ở các nước đang phát triển [10][18]. CIN (Cervical intraepithelial neoplasia) là tổn thương tiền thân của ung thư cổ tử cung [21]. Không ai có thể ước tính được hiện nay có bao nhiêu phụ nữ trên thế giới có tổn thương CIN [22]. Tại Hoa Kỳ, trung bình mỗi năm phát hiện được khoảng 11.000 trường hợp ung thư cổ tử cung, thường xảy ra ở phụ nữ chưa bao giờ hoặc trong 5 năm gần đây không làm xét nghiệm phát hiện vết đốm ở cổ tử cung (Pap smear) [19]. Tại Việt Nam, HPV cũng là tác nhân chính được tìm thấy trong các tổn thương tiền ung thư ở biểu mô cổ tử cung [20].



Hiện nay, một số loại vắc xin HPV đã có mặt trên thị trường và được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu [4]. Các loại vắc xin HPV này được đánh giá là có khả năng ngăn ngừa các bệnh liên quan đến nhiễm HPV. Vắc xin có khả năng phòng 2 loại vi rút HPV16 và HPV18 như Cervarix, hoặc phòng tới 4 loại vi rút bao gồm HPV16, HPV18, HPV6 và HPV11, ví dụ Gardasil. Vắc xin HPV đã được chứng minh là có khả năng ngăn ngừa các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung, ngăn chặn HPV gây ung thư ở hậu môn, âm hộ, âm đạo và dương vật [6][7][8], và ung thư miệng [9].

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Bộ Y tế của các quốc gia bao gồm Canada, Châu Âu và Hoa Kỳ đã đưa ra khuyến cáo tiêm chủng vắc xin HPV cho phụ nữ từ 13 tuổi trở lên. Tại Úc, Hoa Kỳ và một số nước phát triển, vắc xin HPV được chấp thuận cho sử dụng ở cả nam giới. Ngoài việc bảo vệ cho bạn tình của họ không bị truyền nhiễm HPV, việc tiêm chủng vắc xin HPV còn có thể bảo vệ nam giới chống lại mụn cóc ở bộ phận sinh dục, ung thư hậu môn, các bệnh ung thư khác do HPV gây ra. Vắc xin HPV cũng được khuyến nghị tiêm chủng cho các đối tượng có nguy cơ cao như những người nam giới có quan hệ tình dục với nam giới, hoặc những người có tổn thương hệ thống miễn dịch. Gần đây, chính phủ Úc tiên phong cho phép tiêm chủng vắc xin HPV cho cả nam và nữ từ 9 tuổi trở lên nhằm ngăn ngừa tình trạng nhiễm HPV, làm giảm số trường hợp phải điều trị tiền ung thư cổ tử cung, phòng ngừa ung thư cổ tử cung và các loại ung thư khác [10][11].

Tuy nhiên, vì các loại vắc xin HPV hiện nay có mặt trên thị trường chỉ có thể phòng ngừa được một số chủng HPV có tỷ lệ nhiễm cao, do đó các chuyên gia y tế  khuyên rằng phụ nữ vẫn cần phải thường xuyên được xét nghiệm sàng lọc bằng kỹ thuật Pap smear, ngay cả khi đã tiêm chủng các loại vắc xin HPV này [23].

1. Hiệu lực của vắc xin HPV
Các loại vắc xin HPV hiện nay đã được chứng minh có đủ hiệu lực để ngăn chặn tình trạng loạn sản tế bào tuyến cổ tử cung do nhiễm HPV16, HPV18 và một số chủng khác như HPV6, HPV11 [24]. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều chủng HPV nguy cơ cao khác  không bị ảnh hưởng bởi các loại vắc xin HPV hiện có [25]. Hiệu lực bảo vệ của vắc xin HPV được chứng minh là có thể kéo dài ít nhất 5 năm sau khi chủng ngừa và đang được các chuyên gia tiếp tục theo dõi [1][26][27][28]. Vì vậy, các liều vắc xin tiêm chủng nhắc lại sau 5 năm là chưa thực sự cần thiết [29].

Một phân tích gần đây từ một thử nghiệm lâm sàng của vắc xin HPV cho thấy vắc xin có hiệu lực bảo vệ phụ nữ chống lại nhiễm HPV16 và HPV18 mạn tính tạig hậu môn, hoặc ở cổ tử cung. Tuy nhiên, có khoảng 30% các ung thư cổ tử cung, khoảng 10% mụn cóc ở bộ phận sinh dục không được ngăn ngừa bằng vắc xin. Đồng thời, vắc xin không ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác [1][2].

HPV16, HPV18 và HPV45 là tác nhân gây ra ung thư tuyến ở cổ tử cung, chiếm đến 94% các trường hợp ung thư cổ tử cung [10]. Bên cạnh, xét nghiệm Pap smear khó phát hiện được loạn sản tế bào tuyến. Vì vậy, trong các chương trình sàng lọc sử dụng kỹ thuật Pap smear bỏ sót một số lượng các trường hợp bị ung thư tế bào tuyến [10]. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy vắc xin HPV hiện nay cũng có hiệu lực làm giảm tỷ lệ ung thư tuyến cổ tử cung [10].

2. Mức độ an toàn của vắc xin HPV
Trước khi được cấp phép, bất cứ loại vắc xin nào cũng phải được xác định tính an toàn và hiệu lực bảo vệ theo các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia sở tại. Các loại vắc xin HPV hiện nay đã được thử nghiệm trên hàng chục ngàn người  và đã được sử dụng rộng rãi cho cộng đồng tại nhiều quốc gia khác nhau. Vắc xin HPV đã chứng minh là không có tác dụng phụ nghiêm trọng. Các dấu hiệu phổ biến nhất sau khi tiêm chủng là đau nhức tại chỗ tiêm và một số triệu chứng không đặc hiệu, tương tự như khi tiêm các loại vắc xin khác. Tuy nhiên, do không được thử nghiệm trên phụ nữ mang thai, các chuyên gia khuyến cáo là không được sử dụng tiêm chủng bất kỳ loại vắc xin HPV nào cho phụ nữ đang mang thai.

Cục Quản lý Thực phẩm và Thuốc (FDA) và Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC), Hoa Kỳ đã đánh giá về mức độ an toàn, xem xét tác dụng không mong muốn liên quan đến tiêm chủng vắc xin HPV trước khi cấp phép sử dụng tại Hoa Kỳ. Báo cáo cho thấy tỷ lệ xuất hiện các tác dụng không mong muốn sau khi tiêm chủng tương tự như các loại vắc xin khác. Có tỷ lệ nhất định người tiêm chủng bị ngất xỉu và có huyết khối tĩnh mạch cao hơn một chút so với tỷ lệ thường thấy với các loại vắc xin thông thường. Tuy nhiên, vắc xin HPV vẫn đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn an toàn và phù hợp với những quy định hiện hành về mức độ an toàn của vắc xin được phép sử dụng tại Hoa Kỳ [14]. Tình trạng ngất xỉu thường gặp ở các thiếu nữ mới lớn, có thể liên quan ngẫu nhiên với sự nhạy cảm ở tuổi dậy thì. Việc bị ngất xỉu đôi khi có thể gây ra thương tích, chẳng hạn như có thể bị ngã va đầu và gây chấn thương đầu. Do đó, để ngăn ngừa hậu quả liên quan, các cơ sở tiêm chủng cần phải giữ người bị tiêm ngồi hoặc nằm nghỉ tại chỗ ít nhất 15 phút sau khi tiêm chủng [14].

Tài liệu tham khảo

1.    Markowitz, LE; Dunne, EF; Saraiya, M; Lawson, HW; Chesson, H; Unger, ER; Centers for Disease Control and Prevention (CDC); Advisory Committee on Immunization Practices (ACIP) (2007). “Quadrivalent Human Papillomavirus Vaccine: Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices (ACIP)”. MMWR. Recommendations and reports : Morbidity and mortality weekly report. Recommendations and reports / Centers for Disease Control 56 (RR-2): 1–24. PMID 17380109. edit
2.    “HPV Vaccines”. Centers for Disease Control and Prevention(CDC). 2010-10-15. Retrieved 2011-02-27.
3.    “Genital HPV Infection – CDC Fact Sheet”. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). 2009-11-24. Retrieved 2010-02-13.
4.    Glaxo cervical cancer shot approved in Australia Reuters (2007-05-21) Retrieved on 2007-05-25
5.    De Vuyst, H.; Clifford, G. M.; Nascimento, M. C.; Madeleine, M. M.; Franceschi, S. (2009). “Prevalence and type distribution of human papillomavirus in carcinoma and intraepithelial neoplasia of the vulva, vagina and anus: A meta-analysis”.International Journal of Cancer 124 (7): 1626–1636. doi:10.1002/ijc.24116.PMID 19115209. edit
6.    Cortez, Michelle Fay and Pettypiece, Shannon. “Merck Cancer Shot Cuts Genital Warts, Lesions in Men” Bloomberg News. (Bloomberg.com) 13 November 2008.
7.    “FDA: Gardasil approved to prevent anal cancer”. 2010. Retrieved 1-5-2011.
8.    “FDA Approves Expanded Uses for Gardasil to Include Preventing Certain Vulvar and Vaginal Cancers”. 2008-09-12. Retrieved 2010-02-13.
9.    Coco Masters (May 11, 2007). “Oral Sex Can Add to HPV Cancer Risk”. Time. Retrieved 2010-09-17.
10.    Tay, S. K. (2012). “Cervical cancer in the human papillomavirus vaccination era”. Current Opinion in Obstetrics and Gynecology 24 (1): 3–7.doi:10.1097/GCO.0b013e32834daed9. PMID 22123221. edit
11.    Kohout T, Stewart A. “New Report Examines Laws that Would Mandate HPV Vaccine for Young Women”. Jacobs Institute for Women’s Health, George Washington University. Retrieved 2010-02-13.
12.     Planned Parenthood “In fact, the lifetime risk for contracting HPV is at least 50 percent for all sexually active women and men, and, it is estimated that, by the age of 50, at least 80 percent of women will have acquired sexually transmitted HPV (CDC, 2004; CDC, 2006).”[dead link]
13.     Medical News Today
14.    Dunne EF, Unger ER, Sternberg M (February 2007). “Prevalence of HPV infection among females in the United States”. JAMA: the journal of the American Medical Association 297 (8): 813–19. doi:10.1001/jama.297.8.813.PMID 17327523.
15.     American Social Health Association “Genital HPV is the most common STD in America; an estimated 80% of sexually active individuals will contract it at some point in their lives.”
16.     “Study Reveals High Infection Rate In Teens For Virus Linked To Cervical Cancer” Science Daily “The research, reported by Darron R. Brown, M.D., and colleagues at the Indiana University School of Medicine, found four out of five sexually active adolescent females infected with the human papillomavirus.”
17.    Snijders PJ, Steenbergen RD, Heideman DA, Meijer CJ (2006). “HPV-mediated cervical carcinogenesis: Concepts and clinical implications”. J. Pathol. 208 (2): 152–64. doi:10.1002/path.1866. PMID 16362994. “cervical cancer is a rare complication of an hrHPV infection since most such infections are transient, not even giving rise to cervical lesions.”
18.     Cervical Cancer Action – Funded by the Rockefeller Foundation
19.     National Cancer Institute SEER fact sheet on cervical cancer accessed 30 March 2007.
20.     NCCC Online
21.     Women’s Health Channel “Cervical Dysplasia: Overview, Risk Factors”
22.     Global Cancer Statistics, 2002
23.     “Human Papillomavirus (HPV) Vaccines: Q & A”. Fact Sheets: Risk Factors and Possible Causes. National Cancer Institute (NCI). 2009-10-22. Retrieved 2008-07-18.
24.     “New data show Cervarix, GSK’S HPV 16/18 cervical cancer candidate vaccine, is highly immunogenic and well tolerated in women over 25 years of age”. GlaxoSmithKline. 2006-06-05. Archived from the original on 2007-09-27. Retrieved 2007-01-27.
25.    Harper DM, Franco EL, Wheeler CM (April 2006). “Sustained efficacy up to 4.5 years of a bivalent L1 virus-like particle vaccine against human papillomavirus types 16 and 18: follow-up from a randomised control trial”. Lancet 367 (9518): 1247–55. doi:10.1016/S0140-6736(06)68439-0. PMID 16631880.
26.    Schwarz, T. F. (2009). “Clinical update of the AS04-Adjuvanted human Papillomavirus-16/18 cervical cancer vaccine, cervarix®”. Advances in Therapy 26: 983–998. doi:10.1007/s12325-009-0079-5. edit
27.    Harper D, Gall S, Naud P, Quint W, Dubin G, Jenkins D, et al. (2008). “Sustained immunogenicity and high efficacy against HPV 16/18 related cervical neoplasia: Long-term follow up through 6.4 years in women vaccinated with Cervarix (GSK’s HPV-16/18 AS04 candidate vaccine).”. Gynecol Oncol 109: 158–9.doi:10.1016/j.ygyno.2008.02.017.
28.     “Cervarix Adjuvant System Effective for 5 + Years”. Vaccine Rx. April 18, 2007. Archived from the original on September 28, 2007. Retrieved 2007-04-19.
29.    Na; (September 2010). “Committee opinion no. 467: human papillomavirus vaccination”. American College of Obstetricians and Gynecologists 116 (3): 800–3.doi:10.1097/AOG.0b013e3181f680c8. PMID 20733476.


ThS. Trần Mai Hưng, GS.TS. Phạm Ngọc Đính

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Tag: số loại ung thư hiếm gặp, ung thư cổ tử cung, mụn cóc sinh dục, bệnh, tác nhân gây ra, người, nhú, vi rút